Dành cho Logos quảng cáo
Trang giải trí của người Việt

Nguồn gốc

Nguồn Gốc Việt Nam (Bài 3)
Trường Xuân Phu Tử - Hồ Quang
03.11.2013 17:34:13

Người Hiện Đại

Lời người viết:

Tất cả những nội dung sẽ viết ra dười đây là hoàn toàn nằm trong sách vở, tuy rằng có sách cũ nhưng có thể minh chứng được những điều nói ở sách cũ không khác với những sách mới là bao nhiêu. Người viết cố gắng làm hết mình để cập nhật những tài liệu mới được công bố (liên quan đến nguồn gốc Việt Nam) để người đọc có thể nhận định. Người viết cũng xin thưa với độc giả rằng người viết không thể đưa ra một kết luận nào về “nguồn gốc Việt Nam” vì mãi đến hôm nay mọi khám phá nhất là trong phạm vi khảo cổ học vẫn chưa có kết luận chắc chắn về Nguồn Gốc Việt Nam! (Trích trong sách “Trí Thức Việt Nam Cuối Thế Kỷ XVIII” của cùng tác giả).<

BÀI III

Hai bài vừa qua chỉ nói đến “nguồn gốc” của những cư dân người Việt từ phương bắc tràn xuống phía nam, đến định cư tại Bắc Việt Nam. Đa phần những sử gia cũ của Việt Nam (trước thế kỷ XX) bị ảnh hưởng nhiều ở các sách từ Trung Hoa đến, nhất là bị chi phối mạnh ở hệ tư tưởng Nho Giáo. Sách vở họ học là các “cổ thư” Trung Hoa, và tìm đọc những loại sách có liên quan đến những sách này, vì cụ thể là giúp ích cho họ rất nhiều, nhất là trong các kỳ thi cử, nội dung đề bài thi bắt buộc phải nằm trong các sách này. Do đó họ phải học nằm lòng các “cổ thư” mới mong được trúng tuyển, mà có trúng tuyển thì mới được làm quan... Nếu được bổ làm một “sử quan” thì khi viết về lịch sử, họ phải dựa vào sách vở... Nhưng có lẽ đa phần những cuốn sử giá trị đều do những sử quan biết kết hợp vở sách với truyền thuyết trong dân gian, biến truyền thuyết thành sử sách! Thực tế nầy khó chê trách họ được.

Nhưng đến khi ngành thương nghiệp Châu Âu phát triễn mạnh, thị trường Châu Á là nơi béo bở, hấp dẫn tầm nhìn của những đại thương gia Âu Châu, dĩ nhiên không chỉ thương nghiệp tràn sang Châu Á mà còn kéo theo những vấn đề lớn khác trong có “hệ thống tư tưởng tự do dân chủ” (trái ngược với hệ tư tưởng “quân chủ chuyên chế” ở phương đông... Chình việc này đã làm thay đổi hẳn mọi cách nhìn trong cuộc sống của người dân Á Châu.

Sở dĩ người viết dài dòng chỗ này, vì theo cách suy nghĩ của Bài 1, Bài 2 trên, thì nguồn gốc của Việt Nam là từ Trung Hoa, mặc dầu có nói rằng trước khi nhóm Bách Việt đến Việt  Nam thì đã có người dân cư ngụ tại đó từ lâu rồi. Thế họ là ai? Các sử gia, các nhà nhân chủng học, các nhà khảo cổ đang tìm chứng cớ để chứng minh điều này... Người viết chỉ ghi chép lại những gì được khám phá và thừa nhận (tính đến ngày hôm nay), còn những gì chưa công bố hay còn đang nghiên cứu thì vẫn là chuyện trong tương lai.

Khi đọc bài “Xác Lập Cơ Sở Khoa Học Để Tìm Nguồn Gốc Người Việt” trên trang “khoahocnet.com”, tác giả Hà Văn Thùy có viết như sau: 

Tìm nguồn gốc dân tộc là khát vọng truyền đời của người dân Việt. Một nhu cầu đặc biệt bức thúc, nảy sinh trong hoàn cảnh bị áp lực nặng nề do ý niệm không biết có từ bao giờ lưu truyền rằng, dân tộc Việt bị người Hoa đồng hóa không những về văn hóa mà ngay cả huyết thống. Không chỉ nhằm đáp ứng đòi hỏi tâm linh “chim có tổ, người có tông” mà một cội nguồn đích thực còn có thể là bằng chứng về sự độc lập của dân tộc, một hy vọng vượt thoát khỏi cái bóng của người láng giềng khổng lồ phương bắc, giúp người Việt ngửng đầu…”.

“...Thời cận đại, các học giả người Pháp của Viễn Đông Bác Cổ cho rằng “Người Việt có mặt ở Trung Quốc từ thế kỷ XI TCN mà di duệ là Nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn. Năm 333 TCN, Sở diệt nước Việt. Hậu duệ của Câu Tiễn chạy xuống Việt Nam, thành tổ tiên người Việt.” (Việt Nam Sử Lược  Trần Trọng Kim) Các học giả tiên phong như Nguyễn Văn Tố, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh… chấp nhận ý tưởng này, rồi biến nó thành tri thức chính thống của người Việt gần thế kỷ nay...”

Hà Văn Thùy còn cho rằng các sử gia Việt Nam vào những năm 80 (thế kỷ XX), chỉ dựa vào cộng cuộc khảo cổ ở nên “văn hóa Đông Sơn” mà khẳng định là lịch sử dân tộc Việt Nam bắt đầu 700 năm TCN, yêu cầu Quốc Hội (Cộng Hòa XHCN/VN) sửa hiến pháp theo “nghiên cứu” của họ. Nhưng cái hào quang “4000 năm văn hiến” khó có thể xóa được nên Hiến Pháp 1992 chỉ thay chỗ này bằng câu “Việt Nam có mấy nghìn năm lịch sử...”! Từ chuyện xác định con số mù mờ thế này, đã keo theo sự nghi ngờ của người dân là “không biết triều đại Hùng Vương” có thật hay không?

The “Express Train from Taiwan to Polynesia”: on the congruence of proxy lines of evidence, World Archaeology Vol. 36(4): 591 – 600 Debates in World Archaeology, 2004 của Stephen Oppenheimer có dẫn chứng câu nói của Tạ Chí Đại Trường (“huyền sử gia” Kim Định “huyền sử học” Việt Nam, và Ảnh hưởng của Kim Định đối với các học giả trước kia và hiện nay - tạp chí Xưa & Nay, tháng 4 năm 2011), như sau:

“Các biến động mới cùng sự thất bại không thú nhận của việc nối kết thành quả khảo cổ học với thời Hùng Vương ở miền Bắc, khiến cho vấn đề lại buông thả cho cảm tính, cho những khẩu hiệu chính trị cấp thời của sử học…” . Nhưng hình như mãi đến hôm nay thì câu nói “Nước ta có 4000 năm văn hiến, thậm chí gần 5000 năm văn hiến” chưa có thể xóa đi được...

Nghĩ cho cùng thì hkông thể trách sự tồn tại của các suy nghĩ này vì ngay đến cuối thế kỷ XX các nhà khảo cổ, các sử gia, các nhà nghiên cứu chưa đồng ý với nhau về việc xác định nguồn gốc của “người hiện đại” thì dĩ nhiện làm sao có thể xác định được nguồn gốc của một dân tộc chỉ bằng kết quả qua việc xác định một số di chỉ của một vài nơi khảo cổ nào đó.

Đối với Việt Nam ta có thể do sự pha trộn qua nhiều chủng từ nhiều hướng có thể khó xác lập hơn, nhưng ngay như Trung Hoa, họ khoe rằng có nên văn hóa lâu đời (có lich sử thành văn khá sớm - với “nhị thập tứ sử” (24 quyển sử), nếu hỏi họ gốc gác từ đâu, họ cũng chưa biết... Giải đáp chính xác vẫn còn phải chờ ở tương lai.

Như thế muốn tìm hiểu “ngọn” thì trước hết nên tìm biết về cái “gốc” trước đã, nghĩa là chúng ta phải tìm hiểu nguồn gốc loài người trước. Ở đây người viết xin mở ngoặc là mọi sự nghiên cứu để tìm ra “nguồn gốc” chỉ dựa vào “khoa học thực nghiệm” chứ không dựa vào kinh điển của các “thánh nhân” để lại...

Tính cho đến cuối thế kỷ trước, các nhà khảo cổ học, sau khi khai quật các vùng đất nghĩ rằng là loài người xuất hiện đầu tiên, và khi phân tích cac di chỉ tìm thấy ở vùng này đã xác định rằng con người xuất hiện khoảng 5 triệu năm trước tại Phi Châu. Đến khoảng 3 triệu năm sau đó, người “đứng thẳng” (loại người tiền nhiệm của người hiện đại chúng ta) mới xuất hiện (cũng tại Châu Phi). Khoảng 1,8 triệu năm trước, họ từ Châu Phi di cư sang Châu Á. Và rồi vào khoảng 250 ngàn năm trước “người đứng thẳng” lại bỏ Châu Á di cư sang Châu Âu mà hậu duệ sau cùng của họ là người Neanderthals (đã bị biến mất vào khoảng 24 ngàn năm trước đây). Theo cách lý giải này thì tại vùng đất Châu Á đã có một thời gian rất dài không có con người sinh sống. Do đó người Java, người Bắc Kinh (Trung Quốc), người Núi Đọ (Việt Nam)... đều là người “đứng thẳng” dĩ nhiên không có liên hệ di truyền gì với người “hiện đại” chúng ta, và điều này xác quyết rằng những nội dung mà Vương Đồng Linh, tác giả của sách “Trung Quốc Dân Tộc Sử” viết ra là không thật. Vì theo ông ta thì: “Khoảng 500 ngàn năm trước, sống sót sau 4 lần băng giá, loài người tập trung ở phía nam dải Thiên Sơn rồi tiến vào Trung Hoa). 

Như thế thì người “hiện đại” (Homo sapiens) xuất hiện như thế nào?

Ở thế kỷ thứ XX có hai thuyết đối nghịch nhau đó là “thuyết một trung tâm” và “thuyết nhiều vùng”. Thuyết “một trung tâm” cho rằng con người được sinh ra từ quê hương duy nhất là Đông Phi. Ngược lại, thuyết “đa vùng hay nhiều vùng” thì cho rằng con người được sinh ra từ nhiều vùng khác nhau” Châu Phi sinh ra người da đen, Châu Âu sinh ra người da trắng, Châu Á có người da vàng... Cả hai thuyết đều chưa có thuyết nàm đánh đổ được thuyết nào vì không có chứng cứ cụ thể. Thế rồi từ những năm 1970 trở đi, một số nhà khảo cổ đã phát hiện các “di cốt” của người Neanderthals có những nét giống người Châu Âu, do đó phần lớn các nhà khoa học chấp nhận rằng người Neanderthals là tổ tiên của người Châu Âu... điều này đã làm cho quan niệm của “thuyết đa vùng” về nguồn gốc “người hiện đại” thắng thế.

Đối với người Châu Á do ảnh hưởng mạnh của “thuyết đa vùng”, các học giả Pháp của trường Viễn Đông Bác Cổ cho rằng “người Châu Á gồm các sắc tộc Hoa, Việt, Hồi, Mãn... xuất hiện ở phía nam Tây Tạng, rồi tràn từ từ vào Trung Hoa, từ Trung Hoa họ lại tràn xuống vùng Đông Nam Á, nói như thế có nghĩa vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam là vùng đất tiếp nhận những “người hiện đại” cùng với nền văn hóa đó của vùng tây bắc tràn xuống. Khoảng những năm 1920 (thế kỷ XX), giả người L. Aurousseau (Pháp) cho rằng, con cháu của Việt Vương Câu Tiễn trốn chạy cuộc tấn công của người Sở, đã xuống Việt Nam, trở thành tổ tiên người Việt.

Quan niệm này là của trường phái khoa học của trường Viễn Đông Bác Cổ, nó có uy tín rất lớn ở thế kỷ XX chi phối giới khoa học trên thế giới và đối với Việt Nam nó cũng đã giữ vai trò định hướng chủ yếu trong ngành khoa học nhân văn, không chỉ trong quá khứ mà cho tận tới hôm nay.

Đến cuối thế kỷ XX (ngày 29 – 9 – 1998), Trường Đại Học Texas, cho công bố kết quả đề án nghiên cứu về “Quan Hệ Di Truyền Của Người Trung Quốc” của Giáo Sư Y. Chu (Chu, J. Y. et al, Genetic relationship of populations in China, Proc. Natl. Acad. Sci, USA 95, 11763-11768 - 1998), đã nói rằng “Người hiện đại Homo sapiens đưọc sinh ra từ quê hương duy nhất là Đông Phi khoảng từ 160 đến 200 ngàn năm trước. Họ đã từ nơi này vượt qua Hồng Hải  tới bán đảo Á Rập... Từ bán đảo này, một số đã dọc theo ven biển Ấn Độ, Pakistan đểu tới Mã Lai, Indonesia... Từ phía Tây Borneo tràn tới Việt Nam (vào khoảng 60 đến 70 ngàn năm trước). Tại đây họ gặp gỡ nhau, hòa huyết, tăng nhân số... Đến khoàng 50 ngàn năm trước, họ di cư ra các vùng hải đảo ở Đông Nam Á, rồi Châu Úc. Số đi về phía Tây thì chiếm đất Ấn Độ. Đến khoảng 40 ngàn năm trước, do khí hậu phía bắc trở nên tốt hơn, họ di chuyển đến chiếm vùng đất Trung Hoa, rồi vào khoảng 30 ngàn năm trước, họ lại vượt eo Berinh sang chinh phục Châu Mỹ...”

Đây là phát kiến mới nhất cuối thế kỷ XX, nó đánh đổ ngay thuyết “đa vùng” từng ngự trị nhiều năm trước đó. Chính đề án “Quan Hệ Di Truyền Của Người Trung Quốc” đã gây rất nhiều đảo lộn cho khoa học nhân văn cả thế giới. Sở dĩ có thực tiễn này vì kết quả nghiên cứu được công bố của nhóm GS. Y. Chu đã dựa vào ngành khảo cổ học khi phát hiện sọ người Australoid có tuổi 50.000 năm tại vùng hồ Mungo (Châu Úc) và bộ xương người Mongoloid 68.000 năm tuổi tại Quảng Tây (Trung Hoa). Sự phát kiến của nhóm GS. Y. Chu còn chứng minh cho thấy cuộc di cư mà di truyền học phát hiện là có thật, hóa giải sự nghi ngờ mà trước đây chưa giải thích được. Một điều rất thú vị là khi làm khảo sát truy ngược “gen” của người hiện đại Homo sapiens, khoa học phát hiện rằng: “tất cả đàn ông trên thế giới được sinh ra từ người đàn ông duy nhất vào khoảng 160.000 năm trước. Trong khi đó, giới nữ được sinh từ 3 bà tổ khác nhau... Như vậy ngay từ thời cú căn cú kết đó, tại Châu Phi, chỉ có một ông tổ với ba bà tổ sinh ra ba dòng con, về sau hình thành ba đại chủng, đó là “người Mongoloid” (da vàng), “người Australoid” (da đen) và “người Europid” (da trắng).

Những năm đầu của thế kỷ XXI này, đã có nhiều kết quả nghiên cứu nói về “nguồn gốc loài người”, không chỉ đồng tình với sự phát hiện của nhóm Y. Chu, mà còn đưa thêm vào đó những tư liệu vô giá nhằm làm sáng tỏ sự hình thành dân cư tại Đông Á, như:

- Tác giả Spencer Wells trong công trình “The Journey of Man: A Genetic Odyssey” (Princeton University Press. 2002 - Hội Địa Lý Quốc Gia Hoa Kỳ) nói rằng: “Loài người Homo sapiens xuất hiện đầu tiên ở vùng Ethiopia, khoảng 160.000 năm trước. Người tiền sử từ Châu Phi, vượt Hồng Hải tới đất Syria, và từ đây qua Ấn Độ, Pakistan tới Viễn Đông...”.

- Tác giả Stephen Oppenheimer trong công trình “Rời Khỏi Địa Đàng, Chiếm Lĩnh Thế Giới” (Out of Eden Peopling on the World) của Đại Học Oxford (Anh) trên trang Web: http://www.bradshawfoundation.com/journey/introduction.html cũng nói rằng: “Người khôn ngoan Homo sapiens sinh ra đầu tiên tại Đông Phi 160.000 năm trước. Khoảng 132.000 năm trước họ vượt cửa Hồng Hải tới bán đảo A Rập rồi tiến về phia tây. Khoảng 90.000 năm trước, hậu duệ của nhóm này bị tuyệt diệt trên đất Israel vì băng giá. Khoảng 85.000 năm trước, cuộc di cư lần thứ hai được thực hiện. Lần này, vượt cửa Hồng Hải, họ tới bán đảo A Rập rối từ đây, một bộ phận theo bờ biển Nam Á tiến vào Đông Nam Á. Khoảng 70.000 năm trước, từ phía tây Borneo, họ xâm nhập Việt Nam. Tại Việt Nam, họ tăng nhân số rồi di cư ra các đảo ngoài khơi Đông Nam Á, đi về phía tây tới Ấn Độ. Khoảng 40.000 năm trước, chiếm lĩnh đất Trung Hoa và 30.000 năm trước, vượt eo Berinh sang châu Mỹ...”.

- Theo Ballinger cũng nói rằng: “Người Mông Cổ cũng từ Đông Nam Á lên...”  (S. W. Ballinger et al: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45).

- Nhóm các nhà khoa học Tây Ban Nha, Ý, Georgia khi phân tích 5.000 chiếc răng hóa thạch phát hiện ở Châu Âu đưa ra kết luận: “Khoảng 40.000 năm trước, người tiền sử từ Trung Đông qua eo Bosphorus vào Châu Âu. Ở đây họ gặp những người từ Đông Á sang qua đường Trung Á. Hai dòng người hòa huyết cho ra người Eurasian, tổ tiên người Châu Âu hiện nay...”. (Tổ tiên người châu Âu là ai? http://www.radio-canada.ca/nouvelles/Science-Sante/2007/08/07/004-europe-colonisation-asie.shtml?ref= rss).

- Nhiều nghiên cứu về nguồn gốc những tộc người nói tiếng Nam Đảo Austronesian ở các đảo nam Thái Bình Dương cũng cho thấy rằng “họ” đều từ vùng cửa sông Dương Tử hay Việt Nam di cư tới. (G. Solheim II, The Nusantao hypothesis: The origins and spread of Austronesia speakers, Asian Perspective XXVI, 1984-1985, pp. 77-78).

- Những nghiên cứu về DNA của giống lợn ở Thái Bình Dương cũng cho rằng loài vật được người nuôi này đã đưa từ Việt Nam tới.

Trở lại với việc tìm hiểu về nguồn gốc người Việt Nam, thì chúng ta phải trả lời câu hỏi mà các công trình nghiên cứu mới nhất đã phát hiện: “Người tiền sử từ Châu Phi di cư tới Việt Nam 70.000 năm trước đây là ai?”

Bằng chứng duy nhất để có thể kết luận điều này là việc khảo sát 76 sọ người cổ tìm thấy tại Việt Nam. Trong cuốn “Nhân Chủng Học Đông Nam Á, Hà Nội, 12. 1983), nhà khảo cổ Nguyễn Đình Khoa viết rằng: “Thoạt kỳ thủy, trên đất Việt Nam có mặt hai đại chủng người tiền sử là Australoid và Mongoloid. Họ lai giống với nhau và các thế hệ con cái lai giống tiếp cho ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, đều thuộc loại hình Australoid.”, như thế có thể người tiền sử tới Việt Nam 70.000 năm trước gồm hai đại chủng Australoid và Mongoloid, trong đó người Australoid chiếm đa số tuyệt đối. Chính đây là kim chỉ nam giúp tìm hiểu về sự hình thành dân cư Đông Á.

Về chủng người Mongoloid phương Bắc có mặt trên đất Mông Cổ là bằng chứng giúp cho thuyết “đa vùng” tồn tại một thời gian lâu, nhưng rất phức tạp trong sự hình thành dân cư Đông Á. Nhà Khảo Cổ Học Nguyễn Đình Khoa trong sách vừa dẫn cũng nói rằng “Người Mongoloid có mặt trong bước đầu hình thành dân cư Việt Nam. Tuy nhiên suốt thời Đồ Đá, họ biến mất, nhường chỗ cho người Australoid. Nhưng tới thời Đồ Đồng, họ xuất hiện trở lại và thay thế người Australoid giữ vai trò chủ thể không chỉ trên đất Việt Nam mà toàn bộ Đông Á”...

Đến khi nhà nghiên Ballinger đã tìm ra sự kiện quan trọng “Người Mongoloid cũng từ Đông Nam Á đi lên”, có nghĩa là không muốn nói người Việt Nam, nhưng người Đông Nam Á là nói chung, chứ đúng ra phải nói là “từ Việt Nam đi lên” vì nơi đây là vùng đất đầu tiên của người tiền sử có mặt trên lục địa Đông Á.

Từ những dẫn chứng này, trong sách “Hành Trình Tìm Lại Cội Nguồn, Văn Học 2008), Hà Văn Thùy cho rằng chúng ta có thể trả lời câu hỏi trên: “Người tiền sử tới Việt Nam 70.000 năm trước gồm 2 đại chủng Mongoloid và Australoid. Hai đại chủng này khi di chuyển chia thành những nhóm nhỏ riêng biệt. Khi tới Việt Nam, phần lớn họ tập trung tại thềm Biển Đông rồi hòa huyết để sinh ra người Việt cổ. Song song với các chủng Việt cổ này, cũng có những nhóm Mongoloid riêng lẻ đi tới tây bắc Đông Dương. Khoảng 40.000 năm trước, do thời tiết bớt lạnh, họ theo hành lang Ba Thục lên định cư tại tây bắc Trung Hoa và Mông Cổ, sau này hình thành chủng Mongoloid phương Bắc. Việc khảo cổ tìm ra di cốt người Mongoloid 68.000 năm tuổi ở Quảng Tây và người Mông Cổ phương Bắc trên đất Mông Cổ 40.000 năm trước xác nhận điều này”...

Còn người Mongoloid phương Nam thì sao? Có thể nói đây là chủng lớn nhất của dân cư Đông Á ngày nay, nhưng ngành khảo cổ học lại xác nhận: “suốt trong thời Đồ Đá, trên đất Đông Nam Á không có chủng này (Mongoloid phương Nam). Như thế chủng Mongoloid phương Nam có nguồn gốc từ đâu và đã xuất hiện vào thời gian nào. Cũng dựa vào kết quả từ các nhà khảo cổ học, chúng ta biết rằng khoảng 5.000 năm TCN, trên đất Trung Hoa xuất hiện việc trồng kê Ngưỡng Thiều tại phía nam Hoàng Hà và việc trồng lúa nước ở Hà Mẫu Độ (vùng cửa sông Chiết Giang) mà chủ nhân này chính là người Mongoloid phương Nam. Theo “di truyền học” cho thấy rằng vào thời điểm này, người Mongoloid phương Nam chính là sản phẩm hòa huyết giữa người Mongoloid phương Bắc và người Việt cổ (chủng Australoid).

Cũng trong sách “Hành Trình Tìm Lại Cội Nguồn, Văn Học 2008), Hà Văn Thùy cho rằng: “Từ lâu, người Mông cổ phương Bắc sống du mục ở phía bắc Hoàng Hà. Mùa đông họ lùa mục súc về bên sông để tránh rét và có nguồn nước. Việc mua bán trao đổi giữa hai cộng đồng đã nảy sinh những mối tình tự nhiên và cả sự hiếp tróc diễn ra trong những lần cướp phá, dẫn tới những lớp con lai ra đời, mang bộ gen Mongoloid phương Nam. Về mặt di truyền, người Việt cổ sống ở nam Hoàng Hà có sẵn trong huyết quản nguồn gen Mongoloid. Nay được bổ sung gen Mongoloid từ người Mông Cổ phương Bắc, yếu tố Mongoloid trở nên ưu thế, chuyển hóa một bộ phận người Việt cổ trong vùng trở thành Mongoloid phương Nam. Sau hàng nghìn năm như vậy, người Mongoloid phương Nam trở thành chủ thể của dân cư văn hóa Ngưỡng Thiều...”.

Về sự hình thành của cư dân Hà Mẫu Độ, ông Hà Văn Thùy cũng có nhận xét: “Theo nghiên cứu của Stephen Oppenheimer thì khoảng 40.000 năm trước, người tiền sử từ Việt Nam đã theo bờ biển lên cư trú ở vùng cửa sông Dương Tử. Trong số họ, có những nhóm Mongoloid nhỏ lẻ sống riêng rẽ tại đây. Họ sinh sống bằng săn bắt hái lượm mà đánh cá là nghề quan trọng. Khoảng 5.000 năm TCN, người Việt chủng Australoid làm nông nghiệp từ bên trong lục địa mở rộng vùng cư trú tới đây. Họ gặp nhau và sự hòa huyết diễn ra. Với thời gian, người Mongoloid phương Nam trở nên đa số trong dân cư duyên hải phía đông Trung Hoa”...

Trở lại thời gian khoảng 5000 năm TCN, ở vùng Sơn Đông và Ngũ Lĩnh (Trung Hoa) trở thành hai trung tâm lớn của người Việt mà chủng Mogoloid phương Nam chiếm đa số. Cũng thời điểm này có sự di cư tự nhiên (của dân Sơn Đông, Ngũ Lĩnh) xuống phía nam (Việt Nam) và các hải đảo Đông Nam Á. Đế Nghi chia đất, phong vương cho Đế Lai và Lạc Long Quân lập nước Xích Quỷ. Cũng lúc này, cuộc xâm lăng của người du mục Mông Cổ trở nên khốc liệt hơn, dẫn tới trận Trác Lộc, liên quân Việt bại trận. Trước tình thế khó khăn, Lạc Long Quân dẫn quân dân Việt dùng thuyền theo Hoàng Hà vượt biển xuống Việt Nam, đổ bộ vào Nghệ Tĩnh, như được ghi trong “Ngọc Phả Đền Hùng”. Dòng người Việt (chủng Mogoloid phương Nam) di tản của Lạc Long Quân cùng người Việt bản địa (chủng Australoid) chung tay xây dựng Nước Văn Lang. Hai dòng người này đã hòa huyết với nhau cho ra người Việt Nam hiện đại (thuộc chủng Mongoloid phương Nam). Cuộc di tản của người Mogoloid từ ving duyên hải nam Trung Hoa xuống Việt Nam được tiếp tục trong thời gian dài, khiến số lượng người Mongoloid phương Nam tăng lên, cho tới 2.000 năm TCN đã trở thành đại đa số trong dân cư Việt Nam.

Tại miền bắc Việt Nam, các nhà khảo cổ đã phân tích các di chỉ Mán Bạc (Ninh Bình) có niên đại 2000 năm TCN (gồm 30 di hài người Australoid và Mongoloid được chôn chung), đã đưa ra nhận định: “Trên đất Việt Nam đã có sự chung sống lâu dài giữa người Australoid và người Mongoloid. Tới 2.000 năm TCN, việc hòa huyết giữa họ hoàn tất, hầu hết dân cư là Mongoloid phương Nam”.

Và như thế đến đây, trong sách “Tìm Cội Nguồn Qua Di Truyền Học”, tác giả Hà Văn Thùy kết luận rằng: “Người Việt Nam hiện đại được hình thành từ đầu thiên niên kỷ III TCN do sự hòa huyết giữa người Australoid tại Việt Nam và người Mongoloid phương Nam từ vùng Sơn Đông và Ngũ Lĩnh di cư xuống. Cho tới 2.000 năm TCN, chủng Mongoloid phương Nam là chủ thể của dân cư Việt Nam

(Tưởng cũng nên nói thêm về hiện tượng Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á. Căn cứ vào khảo sát sưu tập sọ người cổ được phát hiện ở Đông Nam Á ở nửa thế kỷ trước, các nhà nhân chũng học đã đưa ra nhận định: “...suốt trong thời Đồ Đá, chủng Australoid giữ vai trò độc tôn trong dân cư khu vực. Nhưng sang thời đại Kim Khí, người Mongoloid xuất hiện và sau đó thay thế người Australoid, trở nên thành phần chính của dân cư khu vực. Hiện tượng này được các nhà nhân chủng học gọi là quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á, nó hoàn tất vào khoảng 2.000 năm TCN”. Ngày nay, nhờ những nghiên cứu về di truyền học, có thể giải thích như sau:

“Khoảng thiên niên kỷ thứ III TCN, người Mogoloid phương Nam tại duyên hải Đông Nam Trung Hoa tăng nhân số, trở thành đa số trong dân cư. Do áp lực dân số, họ di cư sang Đài Loan, Việt Nam và các hải đảo Đông Nam Á. Khoảng 2.600 năm TCN, cuộc xâm lăng của người du mục Mông Cổ chiếm nam Hoàng Hà thúc đẩy cuộc di cư này”...

Như thế trên đất Việt cổ (từ lưu vực Hoàng Hà đến Dương Tử là của người Mongoloid phương Nam (người Việt Ngưỡng Thiều, người Việt Hà Mẫu Độ và người Hoa Hạ trong vùng quân Mông Cổ chiếm đóng). Qua nhiều thời kỳ chuyển hóa, hòa huyết, người Môngoloid phương Nam đã thay người Việt cổ (Australoid) trở thành đa số trong dân cư trên phần đất Việt cổ (sau này thuộc về Trung Hoa). Theo sử sánh cổ Trung Hoa thì “Hoàng Đế cai trị khoảng 100 năm (2698 – 2598 TCN), tiếp theo là Thiếu Hạo và Chuyên Húc. Nhưng sau đó, vương quyền chuyển về người Việt với Đế Cốc, Đế Chí, Đế Du Võng rồi Đế Nghiêu (2337 - 2258 TCN), rồi đến Đế Thuấn, Đế Vũ (2205 – 2198 TCN), Đế Ất (Thành Thang 1766 - 1122 TCN). Cho đến khi Vũ Vượng diệt xong Nhà Ân để lập nên Nhà Chu (hay Châu), thì người Hoa Hạ mới nắm vương quyền (vào năm 1046 TCN). Để xác nhận mình là người Hoa Hạ, Vũ Vương Nhà Chu nhận thủy tổ của mình là Hoàng Đế và tôn vị quan trông coi về nghề nông thời vua Thuấn (Hậu Tắc) là tổ trực tiếp của mình, bỏ qua các triều đại người Việt trước đó để chỉ ghi vào sử Trung Hoa từ thời Chu về sau. Để chứng minh điều này, ta thấy tác giả Zhou Jixu đã viết rằng: “lịch sử nông nghiệp Trung Hoa được tính từ khi ông Hậu Tắc học trồng kê (khoảng 2.300 năm TCN)”, nhưng các nhà khảo cổ đã phát hiện di chỉ trồng lúa đã có từ 12.000 năm trước ở phía nam Dương Tử. Tuy lúc đó Nhà Chu nói rằng mình làm bá chủ, nhưng trên thực tế chỉ cai quản một vùng đất nhỏ tại Trung Nguyên, còn chung quanh ngoài hàng trăm các nước nhỏ làm chư hầu thì còn có các nước (thuộc chủng Việt) lớn như: Ba, Thục (phía tây nam), Ngô, Sở, Việt (phía đông), Văn Lang (phía nam)... Về sau khi Tần Thủy Hoàng diệt xong lục quốc, sáp nhập Ba, Thục, Sở vào vương triều Nhà Tần, Trung Hoa thực sự mới có một quốc gia rộng lớn như ngày hôm nay. Điều này chứng tỏ Trung Hoa được hình thành là nhờ vào sự sáp nhập đất đai, dân cư và văn hóa của các quốc gia Việt (Tần Thủy Hoàng là người Việt nên người Hoa Hạ không còn vị trí ưu thế phải chấp nhận hòa đồng với cộng đồng Việt. Từ đây, danh xưng Hoa Hạ dùng chỉ chung khối người chủng Mongoloid phương Nam trên lưu vực Hoàng Hà). K.C. Chang (học giả Trung Quốc) trong The Archaeology of Ancient China, New Haven, Conn. 1968, nói rằng: “Điểm gốc cùa văn minh Trung Hoa chỉ bao gồm vài ba bộ lạc ở ba tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà Nam, lưu vực sông Hoài”. Cung Đình Thanh, trong cuốn “Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam” (NXB Tư Tưởng, Sydney, 2003, tr.62) đã dẫn chứng điều này. Học giả Bỉnh Thế Hà khi kết thúc tác phẩm “The Craddle of the East”, đã nói thẳng thừng rằng: “Nước Tàu làm nên do những người không phải là Tàu”...

Để minh chứng rõ ràng hơn là vào thời Tam Quốc (Ngụy, Ngô, Thục), Tể Tướng Nước Ngụy là Tào Tháo muốn diệt Ngô và Thục, nên cho gián điệp điều tra hai nước này. Người được giao việc là Hứa Tịnh, sau thời gian tìm biết, Tịnh về báo lại: “Trong suốt mười năm, tôi đi vạn dặm đường, từ Hội Kế (Cối Kê) tới Giao Chỉ mà bất kiến Hán địa”. Có lẽ nói như vậy vì Hứa Tịnh, cũng như mọi người phương bắc, quan niệm rằng “văn hóa lưu vực Hoàng Hà mới là đất Hán, còn vùng nam Dương Tử có quang cảnh khác hẳn, từ con người tới nếp sống nên không phải là đất Hán”, vì vậy ông ta không thấy đất Hán. (許靖): “南至交州, 经历东瓯、 闽越之国, 行经万里, 不见汉地 - Nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa”. 三國志。蜀書 (Đi trong vương quốc Hán mà không thấy đất Hán)! Qua việc này cho chúng ta thấy không hề có chuyện người Hán đồng hóa người Việt, và người Việt là do “người tiền sử” từ Châu Phi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam trở thành tổ tiên người Việt…

Những nghiên cứu chính xác hơn có thể còn nằm sâu trong lòng đất hay dưới đáy biển, nhưng bài này chỉ có thể viết tới đây. Nếu sau này phát hiện những điều mới “về nguồn gốc Việt Nam” người viết sẽ điều chỉnh sau.

Trường Xuân Phu Tử - Hồ Quang

(30-10-2013)

HyperLink
Cùng chủ đề
© Copyright 2012    http://vietnamsuhoc.com/    All right reserved.   E-mail:info@vietnamsuhoc.com    Designed by Ho Quang.